Khả thể của một Kiến trúc Tuyệt đối (5)

(Bản dịch sơ bộ của quyển sách “Khả thể của một Kiến trúc Tuyệt đối” (The Possibility of an Absolute Architecture), tác giả Pier Vittorio Aureli, nhà xuất bản The MIT Press Cambridge, 2011) 

(Phần tiếp theo của Chương 1 Hướng về quần đảo)


(…)

Đối với Cerda, Hilberseimer và Archizoom, chúng ta không có nhu cầu về những công trình-kỳ tích (monuments), những mô dạng hay những thứ vượt ra khỏi nguyên lý. Nguyên lý đó bao gồm mạng lưới mở rộng bất tận và những đơn vị cá nhân của ngôi nhà, tức điều giúp duy trì việc tái sản xuất sức lao động. Nhưng dù sao đi nữa, ngay cả nếu lý thuyết tổng quát của Cerda, Kiến trúc cho đại đô thị của Hilberseimet, hay Thành-phố-không-dừng-lại được xem xét một cách đúng đắn như là sự định nghĩa những khát vọng và, với sự tôn trọng, thực tại của thân phận đô thị đương đại, những công trình này cũng không thể tiên đoán được hai “hiệu ứng phái sinh” quan trọng của đô thị hóa, mà với cái nhìn đầu tiên, chúng lại dường như đối nghịch với logic của sự vô tận không đích thực: ốc đảo (enclave), và điểm mốc (landmark). Những hiệu ứng phái sinh này lại có vẻ là thành tố cơ bản của một siêu dự án khác về đô thị hóa đương đại, ở đó, sự biệt lập và tính đa dạng hình tượng đóng vai trò chủ chốt: chúng ta đang nói đến đồ án Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt của Rem Koolhaas. Trình bày năm 1972, đồ án này là sự tái hiện của Manhattan với thứ văn-hóa-đặc-nghẽn của nó (culture of congestion), và như chính bản thân Koolhaas từng tuyên bố, trên thực tế, Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt cũng là họa đồ ý niệm và ý thức hệ của quyển sách New york mê cuồng, được xuất bản sáu năm sau đó.

Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt mô tả một điều kiện đô thị trong đó, sự bùng nổ mật độ dân cư và sự xâm lấn của công nghệ mới, tức chính xác là những gì cấu thành hạt nhân của đô thị hóa, đã liên tục thách thức giới hạn của nó dưới hình thức một thành phố. Trong đồ án này, hệ thống lưới của Manhattan được tái hiện thông qua một chuỗi dường như vô tận những ô phố, mà mỗi một cái lại được cấu thành từ một khối đế nặng nề bằng đá được mài bóng. Koolhaas gọi chúng là “những phòng thí nghiệm ý thức hệ” mà ở đó những loại hình khác biệt về ý thức đại đô thị được định hình. Mỗi một khối đế là một trạng thái ngoại lệ (the state of exception) (như được định nghĩa ở chương 4), và như Koolhaas viết, từng cái trong số này được trang bị để có thể “làm đình chỉ tất cả những điều luật không được mong đợi, những sự thật không thể chối bỏ, và để tạo ra một điều kiện tuyệt đối nhân tạo”. Sự đình chỉ tất cả các điều luật tổng quát được phô bày một cách có chủ đích và căn để trong những kiến trúc khác biệt nằm bên trên khối đế. Những kiến trúc này cấu thành Nghĩa Trang thần thánh của những cổ mẫu công trình Koolhaas yêu thích, như là tòa nhà RCA, Isograms của Superstudio, lễ đài Lenin của El Lissitzky, Tektonics của Malevich, những phức hợp công trình ở Mỹ đặc trưng của Mies, và thậm chí một cái thang máy. Trong thành phố của kiến trúc sư Hà Lan, những cổ mẫu đã từng đóng vai trò là những hành động độc đáo và tiền phong của những mô hình thành phố và thế giới lý tưởng, bị chia tách khỏi bối cảnh nguyên gốc của chúng (dù là trong thực tế hay trong lý thuyết) và được đem đặt lên trên khối đế làm trung gian giữa chúng và một hệ lưới phương ngang đảm bảo khả năng cho sự cùng tồn tại của các kiến trúc này trong một không gian đô thị duy nhất. Sứ mệnh của thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt là nhằm giải quyết sự đứt gãy không thể tránh khỏi giữa tính ổn định của hệ thống đô thị-sự kết hợp giữa giao thông phương ngang và phương đứng thông qua hệ lưới và thang máy-và chủ nghĩa đa tạp cực đoan mà đại đô thị đòi hỏi, được tái hiện qua những đường chân trời chiết trung, nơi đó, mọicổ mẫu tiền phong của thành phố đều được “chấp nhận” và bị quy giản thành những “hình tượng”. Đồ án này đã cho phép Koolhaas về sau, khi ông mô tả khu vực châu thổ Châu Giang của Trung Quốc, đã gọi tên “thành phố của những khác biệt bị trầm trọng hóa”– đến mức độ mà tình trạng ngoại lệ trong từng ô phố trở thành chính hệ thống quy định của bản thân thành phố. Sự thay đổi và ngoại lệ càng được cho phép thì những nguyên tắc đô thị lại càng được củng cố, bởi vì những tiền đề của thành phố Koolhaas đề xuất bao gồm một mặt là hệ lưới có thể trung hòa mọikhác biệt bên trong một cấu trúc mạng đẳng hướng; mặt khác là sự “cấy ghép”, có thể xóa bỏ mối quan hệ giữa cái bên trong (kiến trúc) và cái bên ngoài (đô thị hóa); và cuối cùng là sự cô lập, quy giản mỗi ô phố thành một ốc đảo tự trị mà thông qua việc duy trì chức năng của nó, có thể chứa chấp tất cả các ý hệ mà không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tổng quát của đô thị hóa.

Giống như ý tưởng của Cerda về đô thị hóa, hay nguyên tắc về sơ đồ của Hilberseimer và Thành-phố-không-dừng-lại của Archizoom, Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt dựa trên nguyên tắc đẳng hướng và khả năng phát triển vô tận, nhưng khác với những mô hình trên đây, nó có một trung tâm, chính là quảng trường nơi quả địa cầu bị nhốt. Nếu đồ án này là bức chân dung của Manhattan, thì quảng trường nơi quả địa cầu bị nhốt, mà với Rem Koolhaas, đã nhấn mạnh nhân dạng của thành phố như là mô hình thu nhỏ của bản thân thế giới-tương tự với vai trò của Công viên Trung tâm đối với New York. Khoảng không này-một tấm thảm thiên nhiên nhân tạo-đã thủ tiêu thuộc tính hiển nhiên nhất của đại đô thị, tức mật độ, để cường điệu hóa một cách biện chứng mặt đối lập của nó: sự đặc nghẽn đô thị. Koolhaas gọi mô hình của mình là một “quần đảo”: hệ lưới là biển cả còn những ô phố là những hòn đảo. Những giá trị được xưng tụng trên mỗi hòn đảo càng khác biệt, thì hệ lưới tổng toàn hay biển cả bao quanh chúng lại càng hợp nhất. Như vậy, những ô phố không còn đơn giản là những công trình mà chính là những thành phố thu nhỏ, như kiến trúc này, trong khi dẫn lời Oswald Mathias Ungers, đã gọi chúng là “những thành phố bên trong những thành phố”.

Như vậy, người ta có thể nói rằng đồ án Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt và toàn bộ cấu trúc của New York mê cuồng bị ảnh hưởng nặng nề từ những ý tưởng thiết kế đô thị của Ungers, người mà Koolhaas đã cộng tác giữa những năm 1972 và 1975 khi còn đang học tại Cornell và sau đó, tại Viện nghiên cứu kiến trúc và đô thị nơi ông viết cuốn sách của mình. Dẫu cho cuốn sách là một tuyên ngôn hồi tưởng cho Manhatta, thành phố này lại không được mô tả trong sự toàn vẹn của nó mà thay vào đó, nó được tái hiện thông qua một chuỗi tầm nhìn kiến trúc ngoại lệ và cá biệt, ví dụ như đảo Coney, công trình RCA, trung tâm Rockefeller, và còn thông qua những ý thức hệ tương phản của Dalí và Le corbusier. Một cách tương tự, trong những năm 1960 và 1970, Ungers lúc đó đang làm việc (vừa với văn phòng của ông và sinh viên tại đại học kỹ thuật Berlin và Cornell) trên một chuỗi dự án có nền tảng là ý tưởng về thành phố của những mảnh tương phản. Trong mỗi đồ án như vậy, kiến trúc sư này phát triển ý tưởng về kiến trúc như một tổ hợp đô thị thu nhỏ mà có thể chứa đựng sự phức tạp của thành phố dưới hình thức một tổng thể. Thành phố và kiến trúc của nó không phải là một hệ thống chung nhất mà là những gì Ungers gọi là “sự hòa trộn các mảnh đối lập” (coincidentia oppositorum) ( trích dẫn từ triết gia và nhà thần học người Đức thế kỷ 15 Nicolas of Cusa)-có thể được hiểu như là sự hòa trộn hay sự tổ hợp của những phần không chỉ khác biệt mà phải là đối nghịch nhau để đem đến một sự hợp nhất có tính phê phán. Ý niệm của Ungers về thành phố-quần đảo tạo ra từ những mảnh khác biệt căn để, đặt kề nhau trong một không gian chung đã ảnh hưởng ngay từ lúc đầu lên ý tưởng về New York như một hệ hình đô thị mà Koolhaas theo đuổi. Trong khi đối với Ungers, những mảnh cấu thành thành phố hàm chỉ sự đối nghịch qua lại lẫn nhau, đồng nghĩa với việc chúng gắn liền với một tắc biện chứng về những gì được hợp nhất thông qua sự chia tách, thì dưới góc nhìn của Koolhaas, sự khác biệt giữa các ô phố là sự khác biệt ngay trong chính bản thân từng cái, nơi mà sự đa dạng có thể khai mở vô tận mà không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tổng quát. Trong quần đảo Manhattan của kts Hà Lan, sự khác biệt được củng cố thông qua sự cắt đứt hoàn toàn toàn giữa hình ảnh kiến trúc –nơi mọi thứ đều có thể-và sự vận hành của hòn đảo, mà xét cho cùng, bị chi phối bởi hệ lưới và thang máy, và như vậy “sự cấy ghép” mô dạng công trình. Dẫu vậy, không gian của công trình trong Thành-phố-nơi-địa cầu-bị-nhốt của Koolhaas không thật sự là một hòn đảo, tức nơi sẽ chứng kiến mối quan hệ khai mở đầy sống động của những cách tiếp cận khác biệt giữa bên trong (terra firma) và bên ngoài (đại dương), mà giống nhiều hơn với một ốc đảo, tức nơi mà sự phụ thuộc chặt chẽ của chế độ tiếp cận và lưu thông của từng ô phố được xem như việc đền bù cho sự quá liều của ý thức hệ và tính biểu tượng được những công trình–điểm mốc mang lại.

Ốc đảo là một không gian bị cô lập khiến cho lãnh thổ đô thị không còn đồng dạng. Không giống với  polis Hy lạp, là một dạng ốc đảo là bởi sự chia tách và tự trị của không gian bên trong với những gì nằm ngoài nó, những ốc đảo đương đại mà các công trình-điểm mốc ở Manhattan của Koolhaas là ví dụ không thật sự bị chia tách mà chỉ đơn giản là bị cô lập: nói một cách khác, trong khi sự tiếp cận vào trong không gian của nó bị giới hạn, thì sự tồn tại của dạng ốc đảo này lại phụ thuộc vào sự vận hành của mạng lưới đô thị hóa. Như vậy, ốc đảo có thể được hiểu như là kết quả đến từ sự thống trị của kinh tế và tích lũy tư bản, bởi lẽ, chủ nghĩa tư bản khi nó phải hấp thụ khai thác, chi phối và tổ chức lao động, đồng thời biến đổi điều này thành lợi nhuận, sẽ luôn luôn kết nối và thống nhất lãnh thổ đô thị, nhưng đến thời điểm tích lũy và phân bổ lợi nhuận, nó (chủ nghĩa tư bản) sẽ có xu hướng cô lập. Đến cuối cùng, sự phân biệt xã hội chi phối bởi không gian có chọn lựa của ốc đảo không còn dựa trên chính trị mà là trên sự chuyên chế hoàn toàn của kinh tế dưới hình thức quản lý đô thị, để rồi đến lượt mình, nó sẽ sử dụng một tiêu chí khác như là chính trị để có thể củng cố tính hiệu quả của sự tổ chức và phân biệt. Một hiện tượng tương tự có thể áp dụng trong sự sử dụng đương đại của công trình-điểm mốc, mà trong Thành-phố-nơi-địa-cầu-bị-nhốt được tái hiện thông qua một buổi trình diễn biểu tượng thừa mứa của đường chân trời thành phố và sự ly khai của nó ra khỏi logic tổng thể. Tương phản với ý tưởng về thành phố “không hình dạng” của Archizoom, Thành-phố-nơi-quả-địa-cầu-bị-nhốt có thể được diễn giải như sự tiên đoán về đô thị hóa đương đại, trong đó chủ nghĩa đa tạp và tính đa dạng được chào đón (hay thậm chí được thổi phồng) bên trong logic giới hạn không gian của ốc đảo. Gắn với thể chế kinh tế, logic của sự bao gộp/sự loại trừ này làm tan rã mâu thuẫn biện chứng tiềm năng giũa các mảnh của thành phố, và biến đổi sự đối diện và giải pháp cho mâu thuẫn đó, tức sự cùng tồn tại, trở thành sự không khác biệt của việc chung sống mà như vậy, cũng chính là lối sống bên trong quá trình đô thị hóa. Như đã đề cập ở trên, nếu thành phố bắt đầu từ nghịch lý giữa civitas urbs, hay giữa khả thể của sự đối diện (khả thể của mâu thuẫn) và khả thể của sự bảo vệ, thì nay nó đã kết thúc do hoàn toàn bị nuốt chửng vào trong tiến trình vô tận của đô thị hóa và bản chất chuyên quyền của tiến trình này.

city-of-captive-globe-1.jpg

Rem Koolhaas, The City of the Captive Globe, 1972.
Đô thị hóa được tưởng tượng như là bộ sưu tập những ý thức hệ khác biệt, cạnh tranh được hiện thực hóa. Những ý thức hệ càng khác nhau thì trật tự đô thị cưu mang chúng càng được củng cố. Ở đây, tiềm năng của chủ nghĩa tranh đấu giữa những mô dạng xây dựng bị nuốt chửng bởi trật tự quản lý của việc tổ chức đô thị


(Còn tiếp)

Bản quyền của bài dịch thuộc về nhóm tác giả. Mọi yêu cầu về việc sử dụng cũng như những thắc mắc, góp ý và trao đổi xin vui lòng để lại comment hoặc liên hệ Email: natur.archs@gmail.com

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s